HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

Hotline: 0937 307 988

E-mail: ab@tranhdangiandongho.vn

Yahoo Skype Email

TIN TỨC & SỰ KIỆN
  • Tranh Đông Hồ - Quà tặng đặc biệt

    Tranh Đông Hồ - Quà tặng đặc biệt

    Một sản phẩm mang ý nghĩa văn hóa đặc trưng của Việt Nam. Qua nhiều thế kỷ tồn tại, dòng tranh Đông Hồ đã sử dụng chính cài hồn của cuộc sống ...[ … ]
  • "Màu dân tộc" vẫn giữ "nét tươi trong"

    Nhiều thế hệ người Việt từng thuộc bài thơ "Bên kia sông Đuống" của Hoàng Cầm, trong đó có câu: "Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong - màu dân ...[ … ]
  • Sự kiện

    Sự kiện

    “Học sinh giao lưu, tìm hiểu và trải nghiệm thực tế làm tranh dân gian Đông Hồ”[ … ]
TIN TỨC

Nghệ nhân cuối cùng ở Đông Hồ

Hội Văn nghệ dân gian VN đến nay đã khảo sát, xem xét công nhậnphong tặng 104 nghệ nhân dân gian. Phần lớn trong số này tuổi đều đãcao, các "bảo tàng sống" đó có nguy cơ mất dần, đồng nghĩa với việc cácmôn nghệ thuật dân gian có nguy cơ thất truyền. Mới đây, Tổ chức UNESCOđã khuyến cáo VN nên phong tặng danh hiệu

Hội Văn nghệ dân gian VN đến nay đã khảo sát, xem xét công nhậnphong tặng 104 nghệ nhân dân gian. Phần lớn trong số này tuổi đều đãcao, các "bảo tàng sống" đó có nguy cơ mất dần, đồng nghĩa với việc cácmôn nghệ thuật dân gian có nguy cơ thất truyền. Mới đây, Tổ chức UNESCOđã khuyến cáo VN nên phong tặng danh hiệu

"Báu vật nhân văn sống" (Living human treasures)cho các nghệ nhân dân gian, có những chế độ hỗ trợ kinh phí lưu truyền,bảo tồn... nếu không muốn mất đi những giá trị đáng phải gìn giữ, nângniu.

TT đã đi tìm gặp họ, những người mà cuộc đời chỉ tóm gọn trong mấy chữ: Đời người - đời nghề.

Ông là Nguyễn Hữu Sam, một trong những nghệ nhân cuốicùng làng tranh Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh). Làngtranh giờ gần như đã tan nát, người dân phải quay lưng lại với nghềlàng để xoay cuộc mưu sinh bằng nghề làm vàng mã, duy chỉ có ông Sam vàvài người khác vẫn bám trụ với nghề. Ông bảo: "Cả đời tôi đã gắn bó vớinghề làng và coi đó là cái nghiệp của mình. Tôi cố giữ nó chỉ mong gópphần giữ lại cái hồn dân tộc".

Phiên chợ tranh cuối cùng

Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam hằng ngày vẫn kèm cặp những đứa cháu củamình đến với tranh truyền thống của gia đình, của làng - Ảnh: Đức Bình

Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam năm nay đã 77 tuổi (sinh năm1930), nhưng đã có tới 70 năm làm nghề. Ông Sam hồi tưởng: "Từ nhữngnăm 1940, nghề tranh Đông Hồ cực thịnh. Từ Nghệ An, Thanh Hóa trở ra,nhà nào tết đến dù nghèo mấy cũng mua mấy bức tranh Đông Hồ về lấy may.

Làng có 17 dòng họ bám nghề tranh mà sống. Những ngườilàm tranh bằng hoặc hơn tuổi tôi thì không thể quên được những ngày mùalàm tranh và những phiên chợ bán tranh vào dịp tết. Vào khoảng cuốitháng bảy, đầu tháng tám hằng năm, cả làng đã tất bật để chuẩn bị chomùa tranh tết, khắp làng rực rỡ sắc màu của giấy điệp".

Lên 5 tuổi, nghề làm tranh đã bắt đầu ngấm vào máu cậu bé Sam.

Vào mùa tranh, suốt ngày cậu bé lon ton giúp cha sơnhồ, quết điệp lên giấy dó, thu dọn giấy khô rồi chập chững học cách intranh sao cho đúng màu sắc. Chợ tranh làng Hồ - chợ Hồ trở nên nhộnnhịp và tấp nập nhất vào tháng chạp với năm phiên họp vào các ngày 6,11, 16, 21 và 26. Ông Sam kể hôm họp chợ, khách thập phương kéo đếnđông nghịt. Những người trong làng đi làm ăn khắp nơi nhớ câu ca củalàng Dù ai buôn bán trăm nghề/ Nhớ đến tháng chạp thì về buôn tranh, cũng lũ lượt trở về họp chợ. Tết năm Dậu 1945, giữa nạn đói khủng khiếphoành hành khắp Bắc kỳ, chợ tranh làng Hồ vẫn mở. Năm ấy, cậu bé Samphải một mình ra chợ bán.

Ông Sam nhớ lại: "Chợ tranh xơ xác tiêu điều, chợ họpmà chẳng còn ai đủ hơi sức chú ý và mua tranh nữa, chỉ lo kiếm miếngăn. Đôi bồ tranh tôi quảy đi lại quảy về nặng trĩu. Năm ấy nhà tôikhông có tết". Rồi vài năm sau, khi toàn quốc bắt đầu kháng chiến, quânPháp kéo lên bờ bên này sông Đuống, người dân làng Hồ phải lũ lượt gồnggánh di tản. Riêng cậu bé Sam, đồ đạc trong nhà bỏ lại cả, chỉ gánhtheo những bản khắc gỗ in tranh. Ông Sam xót xa: "Sau chiến tranh, hòabình lập lại, kể cả lúc cuộc sống dễ thở hơn nhưng chưa năm nào làng tổchức lại chợ tranh vào dịp tết như xưa. Không ngờ phiên chợ tranh tếtnăm Dậu đói kém lại là phiên chợ tranh cuối cùng của đời tôi".

Sống, chết cũng phải giữ nghề

Làng Đông Hồ ngày nay khắp ngõ ngách đều phơi giấy hồng giấy đỏ,nhưng không phải là giấy dó làm tranh mà là giấy làm vàng mã - Ảnh: LêBích

Ông Sam nói: "Bao nhiêu năm trời tôi chờ cơ hội hồiphục làng tranh. Cơ hội rồi cũng đến, năm 1967, tôi được Sở Văn hóatỉnh Hà Bắc (cũ) mời lên bàn kế hoạch khôi phục dòng tranh dân giantruyền thống Đông Hồ. Trên đường về mà lòng vui phơi phới với hi vọnglàng tranh sẽ được sống lại".

Một tổ hơn 50 người toàn có nghề cả được ông Sam nhanhchóng tuyển chọn, tập hợp đem theo cùng hàng nghìn bản khắc gỗ cổ nămxưa gìn giữ thành lập một hợp tác xã sản xuất tranh. Sau đó là nhữngngày, người làng Hồ thấy ông Sam "ăn cùng tranh, ngủ cùng tranh" để"truyền lửa" cho các anh em khác. Tranh Đông Hồ được khôi phục dần,nhiều hộ trong làng cũng theo đó mà quay trở lại nghề xưa. Những bứctranh đậm màu dân tộc: Đám cưới chuột, Đàn lợn âm dương, Gà trống, Đánh ghen, Vinh hoa - phú quí... với những đường nét truyền thống được sống lại.

Nhưng niềm vui của "chủ nhiệm Sam" chẳng được lâu. Đếnnăm 1990, cơ chế thay đổi, tranh khó tiêu thụ, người trong nước cũngkhông mặn mà lắm với thú chơi tao nhã treo tranh ngày tết, hợp tác xãtranh làng Hồ phải tự giải tán. Nhiều nhà làm tranh đem những ván khắcra đóng chuồng gà hay đem đun. "Không thể để vốn quí của làng cũng làvốn quí của dân tộc mất đi" - ông Sam tự nhủ. Ông và một số nghệ nhânkhác như Nguyễn Đăng Chế, Trần Nhật Tuấn... đi từng nhà vận động thuyếtphục người dân bán lại những bản khắc ấy.

Riêng ông Sam đã lưu lại được hơn 600 bản khắc cổ vàsáng tạo một số bản khắc mới vừa mang tính dân gian và cả tranh hiệnđại như Đến hẹn lại lên, Lý Thái Tổ hạ chiếu dời đô, Múa quạt quan họ, Tấm áo mẹ vá năm xưa... Nhiều khách du lịch nước ngoài hỏi mua với giá vài chục USD/bản để mangvề nước trưng bày ông cũng không bán. Ông tâm sự: "Khi nào làng tranhtrở lại ngày xưa, tôi xin tặng lại cả cho những người tâm huyết".

Ông Sam có ba con trai, một người đã hi sinh trongkháng chiến chống Mỹ, hai con trai còn lại ông đều hướng cho nghề làmtranh. Mấy đứa cháu nội, ngoại lớn nhỏ của ông cũng được ông dạy từngcông đoạn làm tranh: làm giấy, pha màu, in, vẽ... nên cũng thạo nghề.Ông vẫn nói với con cháu: "Nghề làng cũng là nghề nhà, con cháu trongnhà phải biết làm, sống chết cũng phải cố giữ lấy nó”. Cơ sở sản xuấttranh của ông Sam giờ còn là điểm du lịch của nhiều tour du lịch trongvà ngoài nước.

Đến làng tranh Đông Hồ bây giờ, chúng tôi thấy khắptrong làng ngoài xóm, các ngõ ngách của làng tranh đều có phơi "giấyhồng, giấy đỏ”. Nhưng không phải là giấy dó làm tranh, mà là giấy đểlàm vàng mã chuẩn bị Tết Nguyên đán sắp đến. Ông Nguyễn Đăng Hùng, chủtịch xã Song Hồ, ngậm ngùi: "Cả làng bây giờ có tới 90% người dânchuyển sang làm vàng mã, chỉ còn mấy nhà cố trụ với nghề tranh. Nghềlàng có nguy cơ không còn mà xã cũng chưa tìm ra cách gì”.